FishMAX phát ra bốn trong năm nhân tố kích thích giác quan để nhử cá. Có thể nhử được cá nhiều và lớn một cách dễ dàng khi sử dụng thêm các phương pháp tự nhiên để kích thích cá.
FishMAXâ hoạt động như là chất xúc tác do có những chức năng tạo ra sự thu hút tự nhiên đối với cá. Những hiệu quả của nó thể hiện ở số lượng và kích cỡ của những con cá bắt được trong phạm vi đó ngay khi mà sản phẩm này được thả xuống nước. Những kết quả tích cực này được thể hiện trong phạm vi hoạt động bình thường 300 feet trong an omni direction trong nước. Việc nhử cá được nhìn thấy rất rõ ràng khi để FishMAX nổi gần mặt nước hay khi đặt nó dưới đáy hoặc bất cứ nơi nào . FishMAXâ phát ra những phản ứng toàn bộ ngay lập tức đến các giác quan của cá trong phạm vi truyền. Nó hoạt động trong nước ngọt hay măn đều cho kết quả gần như nhau .
Phản ứng của nhiều chất xúc tác lên cá có thể thấy rõ ngay sau khi nước xử lý propergates out to để bắt được cá trong phạm vi chịu ảnh hưởng. Khi sử dụng FishMAXâ, hiệu quả thu hút (nhử) cá sẽ được thẩm định bởi bộ phận dò tìm được xác định trong phạm vi có ảnh hưởng và hiệu quả sẽ được thể hiện rõ ràng ngay lập tức.
Quá trình hoạt động
Để hiểu được quá trình hoạt động của FishMAX, chúng ta cần phải hiểu được những giác quan tự nhiên của cá. Có năm loại tất cả và chúng ta biết được điều này nhờ những nhà khoa học của Khoa học về Nước và Đaị dương Toàn cầu (Aquatic and Marine Science World-Wide)
Sự tồn tại trong một môi trường phụ thuộc vào khả năng của cá thể trong việc thu nhận thông tin từ môi trường sống nhớ các giác quan. Cá có nhiều giác quan tương tự người, nó có thị giác, khứu giác, xúc giác và cảm giác; cá còn phát triển một số giác quan khác mà con người không có như khả năng hấp thu electron. Cá cảm nhận được ánh sáng, hoá chất , âm thanh/ rung động và dòng điện.
Anh sáng: sự thu nhận hình ảnh [thị giác] (Vision). Cá rất nhạy cảm với hình ảnh, điều này giúp nó có thể tìm thấy được thức ăn, chỗ ở, bạn bè và tránh kẻ thù. Thị giác của cá tương đương với thị giác của chúng ta; hầu hết có thể nhìn thấy màu sắc và một số có thể nhìn thấy trong ánh sáng rất yếu . Aùnh sáng bị phân ra thành nhiều khúc khi gặp nước và những bước sóng nhất định (màu sắc) xuyên qua độ sâu khác nhau tùy thuộc vào độ trong của nước. Trong nước bùn, màu Đỏ được cảm nhận tốt nhất. Nhìn tổng thể thì sự kết hợp giữa màu đen và màu đỏ là tốt nhất. (theo: Những nhiên cứu của một tiến sỹ của Aquatic and Marine Science from Texas A&M USA). FishMAXâ sẽ truyền đi một dải hình ảnh lóe sáng có màu đỏ.
Mắt của cá khác với mắt của chúng ta . Thủy tinh thể của chúng hoàn toàn hình cầu, để chúng có thể nhìn được trong nước vì nó có độ khúc xạlớn hơn giúp chúng tập trung. Cá tập trung nhìn bằng cách di chuyển thủy tinh thể ra, vào chứ không co giãn như chúng ta . Chúng không thể co hay giãn đồng tử được vì thủy tinh thể của chúng phồng lên trong hốc mắt. Khi cá càng xuống sâu, kích thước mắt cásẽ tăng lên để thu được ánh sáng yếu . Quá trình cứ diễn ra như vậycho đến khi không còn ánh sáng, mắt cá sẽ nhắm lại bởi vì không còn ánh sáng để nhìn. Những loài cá sống thường vào ban đêm có khuynh hướng có mắt to hơn những loài cá sống ban ngày . Khi quan sát loài squirrefish, bạn sẽ thấy ngay điều này . Một số loài cá có cấu tạo mắt rất đặc biệt, như là Tapetum lucidum, có thể khuyếch đại ánh sáng đến. Đó là một lớp thủy tinh guanine, sáng lên trong đêm tối . Aùnh sáng đi ngang qua võng mạc sẽ dội ngược lại để nhận thấy thêm một lần nữa . Nếu ánh sáng vẫn không được hấp thu, nó sẽ được phản chiếu ngược lại bên ngoài mắt (they are reflected back out of the eye). Khi lặn vào ban đêm, bạn sẽ thấy được sự phảnn chiếu này khi bạn chiếu sáng chung quanh.
Hoá chất: sự hấp thu hoá chất [khứu giác và vị giác]. Sự hấp thu hoá chất rất phát triển ở cá, đặc biệt là cá mập và cá chình, chúng dựa vào đó để săn mồi . Cá có hai lỗ mũi nằm mỗi bên trên đầu chúng, nhưng nó không nối với họng cá. Cơ quan khứu giác hình hoa thị (rosette) này là bộ phận giúp nhận biết được hoá chất. Kích thước của hoa thị tương ứng với khả năng ngửi của nó. Một số loài cá như cá mập, cá đuối, cá chình, cá hồi có khả năng nhận biết hoá chất ở mức độ 1 phần 1 tỷ.
Cá còn có vị giác. Chúng có thể sử dụng cơ quan vị giác là môi, lưỡi, và toàn bộ miệng. Một số loài cá như goatfish, cá trê có râu, râu chính là bộ phận vị giác của cá. Goatfish có thể đào cát để tìm mồi, và nó có thể nếm được trước khi cho vào miệng.
Rung động: mechanoreception [âm thanh và xung động]. âm thanh và xung động chuyển động trong nước với tốc độ gấp 4 lần trong không khí. Trong nước, sóng được truyền đi với tốc độ 5000 feet/ giây . Phát minh hiện nay phát ra SPW Sonic Pulsed Wave dưới dạng một máy biến năng (transducer)
Bạn đã bao giờ thấy tai của cá chưa ? Có lẽ là chưa, nhưng cá có tai . Nó nằm ở trong cơ thể cá như một hệ thống bên trong để cảm nhận âm thanh xung quanh.
Cá không có tai ngoài, nhưng những xung động của âm thanh dễ dàng truyền từ nước, qua cơ thể cá và vào tai trong. Tai cá được chia làm hai phần: phần trên (phần cao) và phần dưới (utriculus). Phần trên được chia thành 3 ống bán nguyệt, giúp cá cảm giác cân bằng. Its fluid-filled with sensory hairs. Sensory hairs phát hiện ra chuyển động của fluid. Còn những ống thì có cấu tạo để một cái lệch, một cái ngiêng và cái còn lại thì cuốn tròn. Phần dưới (utriculus) giúp cho cá có khả năng nghe được. Nóco hai otoliths lớn rung động theo âm thanh và kích thích những tế bào mao xung quanh.
Cá còn có một giác quan mechanoreception như là sự pha trộn giữa thính giác và xúc giác. Cơ quan làm nhiệm vụ này là neuromast, một cụm tế bào mao với những lông mao nối trong glop of jelly, được biết như là cupala. Tất cả loại cá đều có những neuromast tự do, dùng để tiếp xúc trực tiếp với nước. Hầu hết các loại cá đều có một số neuromast không tiếp xúc trực tiếp với nước. Chúng được sắp xếp có thứ tự và tạo thành hệ thống bên trong của cá. Neuromast tự do giúp cho cá nhận được xung động có định hướng.
Hệ thống bên trong nhận những chuỗi tín hiệu kích thích, và cho cá nhiều thông tin hơn (cảm nhận được những con cá xung quanh nhờ dao động, tìm thấy được con mồi ở gần cảm giác của sự tiếp xúc từ xa)
Dòng điện: sự thu nhận điện tử. Cá mập và cá đuối có những cơ quan đặc biệt có thể tìm ra dòng điện [voltage]. Nó có một loạt những lỗ bao gồm hệ thống thu nhận điện được gọi là ampullae of Lorenzini . Những ống này nằm trên da có chứa một chất như là gelatin cũng có những tế bào giác quan. Mọi sự di chuyển hay thay đổi xung quanh cá mập sẽ làm thay đổi điện thế trong các ống đó, giúp cho cá mập có thể nhận biết được những sinh vật gần đó. Những giác quan này nhạy đến nỗi mà cá mập có thể phát hiện nhịp tim của một con cá hay dầu dây điện được nối với một viên pin ½ V cách nó 500 dặm. Cá mập có thể phát hiện được con mồi đang lẩn trốn hay ngay cả từ trường của trái đất (mà cá mập dựa vào để di chuyển). FishMAXâ phát ra dòng điện thường xuyên theo hướng omni ở trong nước.
FishMAXâ sẽ thu hút và kích thích cá trong phạm vi có tín hiệu; tuy nhiên, bạn cũng cần có kỹ năng và mồi như để bắt chúng!